Apthe miệng – loét niêm mạc miệng

18 Tháng Sáu, 2016 lúc 1:32 sáng 0 Bình luận

Loét niêm mạc miệng hay Aphthe miệng

Loét aphthe là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây ra loét đau ở miệng.

 – Tổn thương kinh điển là một vết loét nhỏ (< 1 cm) hình bầu dục hoặc tròn đáy phẳng mầu vàng nhạt có viền xung quanh mầu hồng hoặc  màu đỏ.  Chúng thường thấy ở phần niêm mạc phía trong của miệng.

– Khoảng  20% đến 40% dân số sẽ bị loét aphthe ít nhất một lần trong đời, nhiều người có thể bị tái phát rất nhiều đợt. Không cần đến xét nghiệm hoặc điều trị đặc hiệu nào nếu bệnh không thường xuyên tái phát.


                                                                                    Loét aphthe

– Bệnh xảy ra nhiều nhất ở tuối thanh thiếu niên và ít gặp hơn ở những bệnh nhân lớn tuổi.

– Người da trắng, không hút thuốc, và những người có điều kiện kinh tế xã hội cao dễ mắc bệnh hơn.

– Bệnh không lây truyền.

1. Nguyên nhân gây loét aphthe

– Hiện nay nguyên nhân gây khởi phát bệnh chưa được biết rõ. Người bị loét aphthe thường không có vấn đề đặc biệt nào về sức khỏe

  • Cả 2 nguyên nhân môi trường và di truyền đã được nêu ra nhưng chưa được chứng minh.
  • Nhiều yếu tố gây khởi phát đã được đề cập đến nhưng chưa chứng minh được cho tất cả mọi trường hợp.
    + Chấn thương miệng
    +Rối loạn nội tiết do chu kỳ kinh nguyệt
    +Rối loạn lo âu hoặc stress
    + Bỏ hút thuốc lá
    + Di truyền
    +Thuốc men (bao gồm các thuốc kháng viêm như Ibuprophen và các thuốc beta-blocker như Atenolol
    +Dị ứng hoặc nhạy cảm với thực phẩm (chocolat, cà chua, hạt dẻ, các loại thực phẩm có vị chua như dứa, và các chất bảo quản thực phẩm như benzoic acid và cinnamaldehyde)
    +Các loại kem đánh răng có chứa sodium lauryl sulfate
    +Thiếu sắt, Axit Folix hoặc vitamin B12 (mặc dù việc cung cấp thêm sắt hoặc vitamins đã không chứng minh được là làm giảm loét)

– Một số nghiên cứu gợi ý sự kết hợp của loét aphthe với vi khuẩn Helicobacter pylori, là vi khuẩn thường gây ra viêm loét dạ dày tá tràng. Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc điều trị tiệt trừ  Helicobacter pylori có thể làm giảm triệu chứng hoặc chấm dứt hoàn toàn các đợt tái phát loét aphthe ở một số người.

Loét aphthe tái diễn có thể kết hợp với bệnh viêm đại tràng, cụ thể là bệnh Crohn và bệnh viêm loét đại tràng (Ulcerative colitis). Trong các trường hợp này, sự xuất hiện của loét aphthe là dấu hiệu cảnh báo cho một đợt viêm loét đại tràng mới.

– Bệnh Celiac, một bệnh đường ruột do nhẩy cảm với Gluten gây tình trạng kém hấp thu có kết hợp với việc hình thành các loét apthe. Gluten là một nhóm các proteins có trong lúa mì, lúa đại mạch, và lúa mạch đen.

– Bệnh Behçet là một tình trạng đặc trưng bởi loét aphthe, loét sinh dục có hình dạng giống loét apthe, và viêm màng bồ đào mắt.

– Nhiễm virus HIV cũng kết hợp với loét aphthe.

– Loét aphthe không liên quan đến nhiễm virus herpes.

2. Triệu chứng và dấu hiệu của loét aphthe

Loét aphthe có nhiều dạng. Chúng có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào trong miệng ngoại trừ mặt trên lưỡi, môi và vòm khẩu cứng.

– Các vết loét aphthe nhẹ (thường gặp ở đa số trường hợp loét aphthe) có hình tròn và nhỏ hơn 10 mm đường kính. Đa số thường có đường kính từ 2-3 mm với trung tâm màu trắng. Các vết loét này thường đau và biến mất sau 3 dến 14 ngày, không để lại sẹo. Loét aphthe nhẹ thường ít khi bị nhiễm trùng.


                                                                     Loét aphthe ở rìa lưỡi

– Các vết loét aphthe nặng thường sâu hơn và có đường kính khoảng từ 1 cm trở lên. Chúng thường rất đau, có bờ không đều và thường chỉ khỏi sau từ 3 đến 6 tuần. Loét có khuynh hường để lại sẹo lớn sau khi lành.

– Một dạng loét aphthe thứ ba, thường được gọi là “dạng herpes” vì giống nhiễm herpes gồm nhiều vết loét nhỏ và nông, có đường kính bằng đầu kim (1-3 mm). Từng cụm vết loét nhỏ này có thể kết hợp với nhau để hình thành vết loét lớn có bờ không đều. Chúng thường kéo dài trong 7 đến 10 ngày.


                 Loét aphthe “dạng herpes”

Loét aphthe thường tái phát. Một số người bị vài đợt trong năm, số khác hầu như bị thường xuyên.

3. Cần đi khám bệnh nếu:

– Đây là đợt phát bệnh đầu tiên và chưa chắc chắn về mặt chẩn đoán

– Đau ngày càng nhiều và không kiểm soát được.

– Bệnh nhân có tiêu chảy. Có thể người bệnh đã mắc một bệnh hệ thống như bệnh Crohn hoặc bệnh viêm loét đại tràng.

– Có những ổ loét ở vị trí khác ngoài miệng. Có thể bệnh nhân đã mắc một bệnh hệ thống như hội chứng Behçet hoặc một bệnh lây truyền qua đường tình dục.

– Đối với các vết loét kéo dài trên 3 tuần.

– Khi các vết loét hiện diện trên 3 tuần thì nên xem xét loại trừ ung thư miệng hoặc bệnh viêm đại tràng (viêm loét đại tràng hoặc bệnh  Crohn).

– Các tác nhân tăng nguy cơ ung thư miệng bao gồm hút thuốc lá, nhai thuốc lá và uống nhiều rượu.

4. Chẩn đoán loét aphthe

Chẩn đoán dựa trên việc hỏi kỹ bệnh sử và quan sát hình dạng các vết loét. Trong đa số trường hợp không cần thiết phải xét nghiệm. Tuy nhiên, nếu chẩn đoán không chắc chắn, bệnh diễn tiến nặng hơn và xuất hiện thêm các triệu chứng khác thì có thể cần phải xét nghiệm máu và sinh thiết ổ loét.

  • Cần loại trừ khả năng loét do herpes hoặc nhiễm nấm, loét do chấn thương. Các vết loét lâu lành có thể là dấu hiệu của một bệnh ác tính.


                                                    Ung thư lưỡi

  • Loét aphthe có thể gặp trên bệnh nhân nhiễm HIV, bệnh nhân viêm loét đại tràng hoặc một số bệnh lý khác.
  • Loét aphthe “dạng herpes” được phân biệt với loét do herpes thật sự ở chỗ  không xuất hiện các mụn nước nhỏ trước khi loét xảy ra.

5. Điều trị loét aphthe

Dù không thể chữa khỏi hẳn, việc điều trị vẫn có thể giúp giảm bớt triệu chứng, giảm khả năng tái phát, và kéo dài thời gian không bị bệnh. Có thể sử dụng một số thuốc sau đây:

– Nitrate bạc: Bôi trực tiếp lên tổn thương. Đã có những nghiên cứu ngẫu nhiên về hiệu quả của thuốc. Thuốc làm bớt đau ngay sau khi bôi và lành thương tổn trong vòng 3 đến 5 ngày. Nhiều bệnh nhân không thích cảm giác nóng miệng sau khi bôi thuốc nhưng rất hài lòng khi hết đau hoàn toàn sau vài giờ.

– Debacterol là sự phối hợp của phức hợp phenol sulfonate với sulfuric acid có tác dụng tương tự nitrate bạc. Đây là một hình thức đốt tiêu hủy vết loét bằng hóa chất. Cảm giác đau hầu như giảm ngay và vết thương sẽ lành sau 3 đến 5 ngày. Thuốc bán theo toa và chỉ được dùng bởi nha sĩ hoặc bác sĩ. Thuốc chỉ được bôi 1 lần mỗi ngày.

– Thuốc chỉ cung cấp theo toa bác sĩ: Nếu chưa bớt sau khi sử dụng các thuốc thông thường:

+ Kem bôi có chứa Triamcinolone Acetonide : dùng ngày 3 lần, tốt nhất là sau các bữa ăn chính và trước khi đi ngủ.

 + Amlexanox (Aphthasol): Bôi ngày 4 lần, sau khi ăn và trước lúc ngủ. Chưa có nhiều bằng chứng về khả năng nhanh chóng làm giảm đau và lành loét của thuốc.

 + Dung dịch Tetracycline (Achromycin, Nor-tet, Panmycin, Sumycin, Tetracap), dùng súc miệng có thể giúp giảm đau và lành loét nhanh chóng. Tuy nhiên thuốc không giúp ngăn ngừa tái phát. Khi dùng quá 5 ngày, thuốc có thể gây kích ứng và tạo điều kiện cho nấm phát triển.

+  Gel lidocaine: Gel 2% lidocaine  bôi chỗ loét ngày 4 lần. Tránh nuốt thuốc sau khi bôi và không nên dùng quá 4 lần mỗi ngày để tránh độc tính.

+  Dung dịch Sucralfate (thường được dùng trong loét tiêu hóa): Còn ít nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng sucralfate cho loét aphthe. Thường dùng bằng cách ngâm 1 viên thuốc vào 5-10 millilit (1-2 muỗng cà phê) nước. Bôi đều dung dịch lên niêm mạc miệng, để thuốc thấm vài phút rồi nhổ ra. Thực hiện 4 lần trong ngày.

+  Có thể dùng bổ sung nếu cơ thể người bệnh thiếu hụt Acid folix, sắt, hoặc vitamin B12. Cần uống nhiều tháng để tình trạng cải thiện. Nếu cơ thể không thiếu các chất kể trên thì việc dùng thêm cũng chẳng mang lại hiệu quả gì đáng kể.

+  Chlorhexidine (Cyteal, Eludril): dung dịch súc miệng sát khuẩn giúp mau lành loét

+  Corticosteroid: Đối với những trường hợp thật nặng, bác sĩ có thể xem xét cho dùng corticosteroid đường uống sau khi cân nhắc giữa  lợi ích và tác hại. Các tác dụng phụ của thuốc bao gồm tăng cân, suy giảm miễn dịch, xương giòn dễ gẫy, tăng tiết acid dẫn đến loét dạ dày v.v…

+ Thalidomide (Thalomid): Trong những trường hợp rất nặng, bác sĩ có thể xem xét dùng thalidomide. Tuy nhiên do gây ra nhiều tác dụng phụ, thuốc chỉ được FDA chấp thuận sử dụng cho loét aphthe nặng ở những bệnh nhân HIV dương tính.

+  Các thuốc có tiềm năng điều trị khác: Gồm các thuốc đã được dùng trong nhiều thử nghiệm như  Colchicine, Pentoxifyllin (Trental), Interferon, Cimetidine (Tagamet), clofazimine (Lamprene), các tác nhân đối kháng TNF-a, Infliximab(Remicade), Etanercept (Enbrel),  Levamisole (Ergamisol), và Dapsone. Một số thuốc trong danh sách dài trên đây khá mắc tiền, gây nhiều phản ứng phụ nhưng lại chưa cho thấy hiệu quả rõ rệt

                Một số dược phẩm dùng trong điều trị loét aphthe

  • Các bước tiếp theo: Đối với người bị lần đầu, nên đi khám để xác định chẩn đoán, loại trừ các bệnh nguy hiểm khác có triệu chứng giống loét aphthe. Với những bệnh nhân tái phát nhiều lần, nên trao đổi, phối hợp với bác sĩ để tránh phải đi tái khám nhiều lần mà vẫn bảo đảm là bệnh không gây ra nhiều đau đớn, bất tiện.

6. Phòng tránh loét aphthe

– Nên tránh tất cả những nguyên nhân có thể gây ra chấn thương, dù rất nhẹ ở miệng như dùng bàn chải đánh răng hoặc các loại thức ăn cứng.

– Giảm Stress : Đối với nhiều bệnh nhân, stress có thể gây nhiều đợt tái phát loét aphthe. Các kỹ năng giúp giảm stress cũng sẽ giảm tần số xuất hiện các đợt tái phát.

– Tránh dùng các loại kem đánh răng có chứa sodium lauryl sulfate nếu thường xuyên bị loét aphthe.

– Không nên nói chuyện khi đang nhai.

– Sửa chữa lại các bề mặt răng không đều.

– Các yếu tố nội tiết đôi khi có thể kích hoạt một đợt bùng phát loét aphthe ở giai đoạn trước khi có kinh. Dùng thuốc tránh thai uống có thể giúp ích.

– Bổ sung vào khẩu phần nếu bệnh nhân thiếu sắt, folic acid, hoặc vitamin B12, tuy nhiên trong đa số thường hợp, điều này cũng không cải thiện tình trạng tái phá.

7. Tiên lượng

– Đa số bệnh nhân thường không bị ảnh hưởng gì nhiều bởi loét aphthe, vì các đợt bùng phát thường thưa và chỉ kéo dài từ một đến 2 tuần. Tuy vậy các thể nặng có thể kéo dài lâu hơn.

– Ở những bệnh nhân lớn tuổi, loét aphthe sẽ xảy ra ít thường xuyên hơn và cuối cùng biến mất hẳn.

 

TAGS: